welcome to wasabi

Chào mừng các bạn đến với blog WASABI KOBOLD.

blog này được mở với mục đích chia sẻ kiến thức và học hỏi.
Vui nếu bạn quan tâm, mừng nếu bạn góp ý.

Mọi sao chép xin trích dẫn nguồn bài viết. Cảm ơn!
Showing posts with label cơ chế phá hoại đá. Show all posts
Showing posts with label cơ chế phá hoại đá. Show all posts

Monday, May 25, 2026

Đặc tính lưu biến của đá

Đá thường được coi là vật liệu địa chất rắn chắc, biểu hiện phá hủy giòn đột ngột. Tuy nhiên, khi xem xét ở điều kiện nhiệt độ cao và quy mô thời gian lớn thì đá có ứng xử dẻo (ductile). Việc nắm bắt các quan hệ/mô hình lưu biến cơ bản là rất quan trọng để mô tả tốt nhất hành vi nhớt dẻo của đá.

Lưu biến (rheology) bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp rhei (ρέει), nghĩa là dòng chảy, và logos (λόγος), nghĩa là nghiên cứu. Trong địa chất học, chúng ta quan tâm đến các quá trình địa động lực kéo dài hàng triệu năm, ứng xử biến dạng dẻo phụ theo thời gian rất quan trọng: từ biến (creep). Từ biến bản chất là các chất kết tinh biến dạng không thuận nghịch dưới ứng suất tác dụng

Ứng xử từ biến của vật liệu có thể được chia thành ba giai đoạn như hình minh họa:

  1. Từ biến sơ cấp (Primary/transient creep): Biến dạng tăng với tốc độ giảm dần
  2. Từ biến thứ cấp (Secondary/steady-state creep): Xảy ra khi tốc độ biến dạng trở nên không đổi
  3. Từ biến tam cấp (Tertiary creep): Tốc độ biến dạng tăng theo hàm mũ, cuối cùng dẫn đến sự phá hủy vật liệu.
Các ứng xử lưu biến khác nhau có thể được mô tả bằng các phần tử lò xo, giảm chấn (dashpots) và con trượt. Lò xo Hooke: mô tả cho biến dạng đàn hồi . Vật giảm chấn: mô tả cho biến dạng nhớt Newton (ứng suất cắt tỉ lệ thuận với tốc độ biến dạng); Con trượt: mô tả cho phản ứng không đàn hồi/dẻo của đá

Việc kết hợp các phần tử này tạo ra các mô hình phức tạp hơn như Maxwell (lò xo và bình giảm chấn nối tiếp) và Kelvin (lò xo và bình giảm chấn song song).
Mô hình Maxwell: Thể hiện phản ứng đàn hồi tức thì, sau đó là từ biến thứ cấp tăng dần dưới tải trọng không đổi
Mô hình Kelvin: Có biến dạng tăng tiệm cận, mô tả tốt nhất giai đoạn từ biến sơ cấp
Mô hình Burger: Kết hợp nối tiếp một vật thể Maxwell và một vật thể Kelvin, có thể thể hiện cả từ biến sơ cấp và thứ cấp
Hình một số mô hình từ biến cổ điển

tạm thế, giờ phải đi đổ rác, xong viết tiếp


.

Saturday, October 18, 2025

Các dạng trượt mái dốc trong đất tàn tích

 

Hiện tượng trượt và sạt lở đất trong đất phong hóa thường được kích hoạt bởi mưa lớn, và là kết quả của sự gia tăng tạm thời áp lực lỗ rỗng trong mái dốc. Đây là một điểm khác biệt quan trọng so với đất trầm tích, nơi mà mực nước ngầm có xu hướng duy trì ở vị trí cân bằng lâu dài và không bị ảnh hưởng bởi thời tiết. Động đất mạnh cũng có thể là yếu tố kích hoạt hiện tượng trượt hoặc sạt lở đất. Nguyên nhân của nhiều trận sạt lở đất lớn trong đất phong hóa thực chất là do hoạt động của con người. Các hoạt động như đào cắt mái dốc, đắp đất trên sườn dốc, làm ngăn cản hệ thống thoát nước tự nhiên và đường thấm, cũng như nạn phá rừng đều là các yếu tố làm giảm độ ổn định của mái dốc và có thể dẫn đến sạt lở.

Các quan sát thực tế cho thấy trượt trong đất tàn tích rất hay gặp dạng cung tròn nông, trượt tịnh tiến theo mặt ranh giới giữa tầng phong hóa mạnh với tầng đất đá tốt hơn, trượt dạng khối theo ranh giới giữa tầng phong hóa mạnh và tầng đất đá tốt hơn bên dưới.

Có nhiều trường hợp mái dốc trong đất phong hóa có thể còn bị chi phối bởi sự hiện diện của các mặt yếu. các mặt yếu thường là các khe nứt có sẵn từ khi đá chưa bị phong hóa, độ bền kháng cắt dọc các khe nứt này thường yếu hơn và đặc biệt là nơi nước tập trung thấm vào. Điều này có khả năng xảy ra với những loại đất đã chịu tác động biến dạng kiến tạo, hoặc được hình thành từ các loại đá đã chịu biến dạng như vậy. Sự tồn tại của các mặt yếu này khiến việc xác định kiểu trượt có thể xảy ra và giá trị của các tham số sức kháng của đất trở nên vô cùng khó khăn, do đó kết quả phân tích ổn định thường không đáng tin cậy. Đối với trường hợp khi các vết nứt định hướng theo một hướng nhất định như ở đất phong hóa có nguồn gốc từ đá trầm tích có thể chứa các mặt yếu phản ánh những lớp yếu cụ thể trong vật liệu gốc. Trong trường hợp này có thể xác định được các tham số cắt trong những lớp yếu đó và sử dụng chúng trong phân tích ổn định hợp lý. 

Monday, June 9, 2025

Về hạn chế của mô hình Hoek-Brown trong mô phỏng khối đá

Theo thảo luận và phê bình của ngài Nick Barton về mô hình Hoek-Brown cho khối đá trong bài bài báo "Twenty Strange Years in the World of Rock Mechanics and Engineering Geology", tạm dịch là "20 năm lạ lùng trong lĩnh vực Cơ học đá và Địa chất công trình thế giới" 😉

Nguồn: https://irispublishers.com/ctcse/pdf/CTCSE.MS.ID.000768.pdf


Bài báo "Twenty Strange Years in the World of Rock Mechanics and Engineering Geology" của Nick Ryland Barton thảo luận về những thách thức trong lĩnh vực cơ học đá và địa chất công trình, đặc biệt nhấn mạnh sự phức tạp của việc khảo sát và mô hình hóa khối đá nứt nẻ so với đất hoặc vật liệu đồng nhất. Tác giả chỉ trích việc áp dụng rộng rãi phương pháp GSI (Geological Strength Index) và các phương trình Hoek-Brown liên quan, cho rằng chúng đơn giản hóa quá mức và có thể dẫn đến những mô hình không thực tế, đặc biệt khi GSI được sử dụng lặp lại nhiều lần trong các công thức. 

Trong mô hình Hoek-Brown, chỉ số GSI đơn giản nhưng được sử dụng được lặp đi lặp lại nhiều lần trong các công thức tính các tham số: 16 lần trong phương trình Hoek-Brown (Hoek et al. 2002) cho tham số Mohr-Coulomb ‘c’ (lực dính đơn vị), lặp 12 lần trong phương trình H-B tính góc ma sát ‘ϕ’ và 10 lần cho ước tính độ bền nén 1 trục khối đá ‘σcm’". Ngoài ra, hệ số xáo động D, một hệ số mà bản thân nó khó xác định chính xác cũng xuất hiện 7 lần và 6 lần trong các phương trình H-B khi tính ‘c’ và ‘ϕ’". Việc lặp lại nhiều lần có thể dẫn đến kết quả thiếu chính xác hoặc thậm chí ra kết quả sai lệch lớn.

Hoek-Brown dựa trên Mohr-Coulomb giả định rằng khối đá có độ bền là kết hợp của các thành phần c và ϕ tuy nhiên quá trình phá hủy khối đá không huy động cả 2 thành phần này đồng thời.

Bên cạnh thảo luận về các vấn đề cơ học khối đá, Barton đề xuất các phương pháp phân loại khối đá định lượng khác như hệ thống Q và mô hình rời rạc (discontinuum modeling), như UDEC-BB, là hiệu quả hơn trong việc phản ánh thực tế sự phức tạp của khối đá có khe nứt, đặc biệt trong các dự án hầm mỏ và sườn dốc. Bài viết cũng nêu bật sự khác biệt giữa mô hình liên tục (continuum modeling) và mô hình rời rạc (discontinuum modeling), nhấn mạnh sự vượt trội của mô hình không liên tục trong việc tái tạo ứng xử thực tế của khối đá và sự cần thiết của một sự thay đổi tư duy trong thiết kế công trình đá tốt hơn.

Sunday, March 23, 2025

Về sự không thực tế của mô phỏng liên tục trong cơ học đá

Một bài báo mới của cụ Barton

"REFLECTIONS ON AN UNREALISTIC CONTINUUM BRANCH OF ROCK MECHANICS– DISCONTINUOUS BEHAVIOUR ALTERNATIVES."

Bài báo tập trung vào việc phê bình các mô hình liên tục (continuum modelling) trong cơ học đá, đặc biệt là chỉ số GSI (Geological Strength Index) và phương trình Hoek-Brown, vốn được sử dụng rộng rãi trong hơn 30 năm qua. Tác giả lập luận rằng các mô hình này thường không phản ánh chính xác quá trình phá hủy của khối đá do không tính đến đầy đủ vai trò của các khe nứt hiện có và dựa quá nhiều vào các tham số của đá nguyên khối (intact rock). Barton cho rằng các giải pháp cổ điển như Mohr-Coulomb (M-C) đưa ra kết quả sai lệch lớn, chẳng hạn như dự đoán độ cao tối đa của vách đá vượt quá thực tế, vì chúng đánh giá quá cao độ bền gắn kết của đá nguyên khối thay vì tập trung vào liên kết yếu nhất.

Cụ cũng phê phán việc sử dụng mức ứng suất khởi phát nứt (crack initiation stress) theo tỷ lệ 0.4 lần UCS (độ bền nén đơn trục), cho rằng nó không liên quan trực tiếp đến UCS mà thay vào đó phụ thuộc vào độ bền kéo (tensile strength) và tỷ số Poisson. Ông đề xuất cần xem xét lại cách tiếp cận sự phá hủy của khối đá, kết hợp các yếu tố như khe nứt và hành vi phi tuyến tính, thay vì dựa vào các phương trình "hộp đen" như Hoek-Brown. Ngoài ra, Barton so sánh các mô hình liên tục với mô hình không liên tục (discontinuum modelling), chẳng hạn như tiêu chuẩn Barton-Bandis, vốn mô tả chi tiết hơn ứng xử trượt và giãn nở (dilation) của khe nứt.

Bài báo kết luận rằng các mô hình liên tục như GSI và Hoek-Brown, dù phổ biến, có thể không đủ để mô tả thực tế phức tạp của khối đá có khe nứt, đặc biệt trong các bài toán thực tế như thiết kế sườn dốc mỏ lộ thiên. Tác giả kêu gọi một cách tiếp cận mới, nhấn mạnh tầm quan trọng của dữ liệu thực nghiệm và mô phỏng dựa trên cơ chế thực tế hơn là các giả định đơn giản hóa quá mức.


Thursday, January 23, 2014

Vi khe nứt trong đá


Theo nhiều nghiên cứu thí nghiệm đá giòn cũng như các vật liệu giòn khác, ứng xử cơ học của đá giòn dưới điều kiện ứng suất có liên quan chặt chẽ với quá trình hình thành và phát triển của các vi khe nứt trong đá. Các khe nứt vi mô trong đá có ảnh hưởng tới các đặc tính cơ lý của đá như cường độ kháng nén, tốc độ truyền sóng đàn hồi, tính thấm và tính dẫn điện… Việc nghiên cứu các khe nứt, về sự sắp xếp, mật độ, kích thước cũng như sự hình thành và phát triển của chúng theo điều kiện ứng suất giúp chúng ta nghiên cứu các đặc tính cơ lý của đá cũng như ứng xử của đá ở các điều kiện ứng suất nhất định.

Friday, December 27, 2013

Các dạng phá hủy của đá khi nén



Khi đá chịu tác dụng của tải trọng dẫn tới phá hủy, hình thức phá hủy và đặc điểm bề mặt nứt vỡ phản ánh cơ chế của quá trình phá hủy, đồng thời phản ánh điều kiện ứng suất khi tác dụng tải trọng. Kiểu phá hủy ảnh còn hưởng tới cường độ của mẫu đá. Do đó, thông qua kiểu phá hủy của mẫu đá sau khi nén, chúng ta có thể phần nào nhận xét cơ chế và cường độ của đá. Việc phân tích kiểu phá hoại cho chúng ta cái nhìn rõ hơn về sự phân bố ứng suất trong mẫu đá. Khi hiểu sự ảnh hưởng của dạng phá hoại tới cường độ của đá giúp, chúng ta phân tích có thể đánh giá kết quả của thí nghiệm nén một cách sâu sắc hơn.

Wednesday, December 25, 2013

Cơ chế phá hoại của đá khi nén




Bài viết về cơ chế phá hoại đá khi nén do quá trình hình thành và phát triển các vi khe nứt trong đá.

Trong đá thường luôn tồn tại các vi khe nứt, rất nhỏ, thậm chí mắt thường không nhìn thấy được. Các vi khe nứt này thường phân bố và nằm theo hướng bất bất kỳ. Các vi khe nứt này có ảnh hưởng rất nhiều tới đặc tính cơ học của đá, trong đó có ảnh hưởng cả tới cường độ kháng nén một trục của đá. Đã có nhiều tài liệu nghiên cứu đề cập tới ảnh hưởng này. Các nghiên cứu thí nghiệm cho thấy các mặt nứt vỡ gây phá hoại đá đều phát sinh và hình thành từ hệ thống các vi khe nứt ban sẵn có trong đá. Quá trình phá hoại đá có liên quan trực tiếp tới sự hình thành và phát triển các khe nứt này. Vị trí, mật độ, kích thước và hướng của các vi khe nứt trong đá là một trong các yếu tố góp phần quyết định kiểu phá hoại của mẫu đá.